Luận điểm của Mao Trạch Đông về ĐCMVHVS Liên tục trong “Thông tri 16 - tháng 5” được thông qua tại Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng ngày 16-5-1966 trình bày về chính sách, đường lối, lí luận, phát động toàn diện ĐCMVHVS và Nghị quyết Hội nghị toàn thể lần thứ 11 khóa 8 BCHTWĐCSTQ thông qua ngày 8-8-1966 về ĐCMVHVS. MaoTrạch Đông cho rằng: “Một số lớn nhân vật đại biểu của giai cấp tư sản, phần tử xét lại phản cách mạng đã chui vào trong Đảng, Nhà nước, quân đội” và “quyền lãnh đạo của một số lớn các đơn vị đã không còn trong tay những người theo chủ nghĩa Mác-Lênin và quần chúng nhân dân”. “Phái đương quyền theo con đường tư bản chủ nghĩa trong Đảng đã hợp thành Bộ Tư lệnh của giai cấp tư sản, chúng có mặt ở tất cả các ngành các cấp từ Trung ương đến địa phương”. “Các cuộc đấu tranh trước đây không giải quyết được vấn đề này, chỉ có thể tiến hành một cuộc ĐCMVHVS công khai, toàn diện, làm từ dưới lên trên, phát động quần chúng nhân dân bóc trần bộ mặt đen tối của chúng, mới có thể giành lại được quyền lực bị mất do phái đi con đường tư bản chủ nghĩa tước đoạt”. Mao Trạch Đông nhấn mạnh “thực chất đây là cuộc đại cách mạng chính trị của giai cấp này lật đổ giai cấp khác, và phải tiến hành nhiều lần từ nay về sau”. Những luận điểm trên đây chủ yếu phản ánh trong hai văn kiện được coi là cương lĩnh của “ĐCMVHVS”: Ba giai đoạn của ĐCMVHVS - Từ khi phát động tháng 5-1966 đến Đại hội Đảng toàn quốc khóa 9 tháng 4-1969. Thông tri 16 - tháng 5 và Nghị quyết lần thứ 11 khóa 8 là biểu hiện sự phát động toàn diện “ĐCMVHVS”, nhằm tiến hành một cuộc đấu tranh sai lầm với cái gọi là “tập đoàn phản Đảng Bành Chân, La Thụy Khanh, Dương Thượng Côn” và tiến công vào “Bộ Tư lệnh Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình”, đã tiến hành cuộc cải tổ sai lầm cơ cấu lãnh đạo Trung ương Đảng, thành lập cái gọi là “Tiểu tổ CMVH Trung ương” (Giang Thanh là phó tổ trưởng thứ nhất Tiểu tổ CMVHTW kiêm cố vấn Tiểu tổ CMVH quân đội -tg) và dung túng cho nó nắm đại bộ phận quyền lực quan trọng của Trung ương Đảng. Sai lầm tả khuynh của Mao Trạch Đông trên thực tế đã làm mất đi sự lãnh đạo tập thể của Trung ương Đảng, sự sùng bái cá nhân Mao Trạch Đông bị thổi phồng đến trình độ cuồng nhiệt. Bộ tứ Giang Thanh, Diêu Văn Nguyên, Trương Xuân Kiều, Vương Hồng Văn chủ yếu lợi dụng triệt để danh nghĩa cái gọi là “Tiểu tổ CMVH Trung ương” kích động “đánh đổ tất cả”, “nội loạn toàn diện”. Trước và sau tháng 2-1967 các đồng chỉ ở Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương: Đàm Chấn Lâm, Trần Nghị, Diệp Kiếm Anh, Lý Phú Xuân, Lý Tiên Niệm, Nhiếp Vĩnh Trăn, Từ Hướng Tiền, tại nhiều hội nghị đã mạnh dạn dũng cảm phê bình cách làm sai lầm của CMVH, nhưng lại bị vu khống là “dòng nước ngược tháng 2”, họ bị cô lập và bị phê đấu, kết quả là các cơ quan lãnh đạo Đảng, chính quyền các ngành, các địa phương toàn Trung Quốc hầu như bị cải tổ, bị tê liệt, bị tước quyền lãnh đạo. Hội nghị lần thứ 12 khóa 8 BCHTƯĐCSTQ tháng 10-1968, Mao Trạch Đông đã phê chuẩn báo cáo của “Tiểu tổ Thẩm tra Chuyên án Trung ương” do Giang Thanh đứng đầu về “tội nội gián, phản bội của Lưu Thiếu Kỳ”, quyết định khai trừ vĩnh viễn Lưu Thiếu Kỳ ra khỏi Đảng và hủy bỏ mọi chức vụ trong và ngoài Đảng của Lưu Thiếu Kỳ. Đại hội khóa 9 tháng 4-1969 do Mao Trạch Đông chủ trì, đã ghi vào cương lĩnh và điều lệ ĐCSTQ: Lâm Bưu là người kế nhiệm Mao Trạch Đông. Sau này ĐCSTQ đã đánh giá “Đại hội khóa 9 đã hợp pháp hóa thực tiễn và sai lầm của CMVH. Đại hội khóa 9 đã tăng cường và củng cố địa vị của Lâm Bưu, Giang Thanh, Khang Sinh. Phương châm chỉ đạo của Đại hội khóa 9 về tư tưởng, chính trị và tổ chức là hoàn toàn sai lầm”. - Từ Đại hội khóa 9 đến Đại hội khóa 10 tháng 8-1973. Những năm 1970-1971 xẩy ra sự kiện chính biến vũ trang phản cách mạng hòng đoạt quyền lãnh đạo cao nhất trong Đảng của Lâm Bưu. Về mặt khách quan, đây chính là lời tuyên cáo cho sự thất bại về lý luận và thực tiễn của “ĐCMVHVS”. Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đã sáng suốt đập tan âm mưu chính biến này. Đại hội khóa 10 tháng 8-1973 tiếp tục sai lầm tả khuynh của Đại hội khóa 9, hơn nữa theo đề nghị của Mao Trạch Đông còn đưa Vương Hồng Văn làm phó Chủ tịch Đảng. Giang Thanh, Vương Hồng Văn, Trương Xuân Kiều, Diêu Văn Nguyên kết thành “lũ bốn tên” ở Bộ Chính trị. Tập đoàn phản Đảng - Giang Thanh được tăng cường thực lực và vai trò lãnh đạo trong Đảng (từ 1969-1973 Đặng Tiểu Bình lao động cải tạo tại nhà máy chế tạo máy kéo Tân Kiến - Giang Tây). - Từ Đại hội khóa 10 đến tháng 10-1976 Đầu năm 1974 Giang Thanh, Vương Hồng Văn đề xuất triển khai phong trào “phê Lâm, phê Khổng”, Mao Trạch Đông ban đầu phê chuẩn triển khai cuộc vận động này. Sau này, khi phát hiện ra hoạt động đoạt quyền của Giang Thanh và phe lũ, đã phê bình, cảnh cáo bọn họ, Mao tuyên bố bọn họ là “lũ bốn tên” và chỉ ra dã tâm đoạt quyền lãnh đạo Đảng của Giang Thanh. Hội nghị lần thứ 2 khóa 10 tháng 1-1975 quyết định Đặng Tiểu Bình làm phó Chủ tịch Đảng, Tổng Tham mưu trưởng quân đội. Năm 1975 Chu Ân Lai bệnh nặng, Đặng Tiểu Bình chủ trì mọi công việc hàng ngày của Trung ương, triệu tập hội nghị Quân ủy Trung ương, tiến hành chỉnh đốn hàng loạt công việc, uốn nắn sửa chữa một cách có hệ thống hàng loạt sai lầm nghiêm trọng của CMVH. Việc làm này của Đặng Tiểu Bình đã làm cho tình hình tồi tệ của Trung Quốc có bước phát triển tích cực và được toàn Đảng, toàn dân nhiệt liệt ủng hộ. Và việc làm này của Đặng Tiểu Bình khiến Mao Trạch Đông không thể tha thứ. Mao Trạch Đông phát động phong trào toàn quốc “phê Đặng, chống lại làn sóng hữu khuynh”, toàn quốc lại rơi vào tình trạng hỗn loạn. Tháng 1-1976 Chu Ân Lai mất. Tháng 4-1976 toàn quốc rầm rộ phong trào phê phán “lũ bốn tên”, thực chất là ủng hộ sự lãnh đạo chính xác của Trung ương Đảng mà Đặng Tiểu Bình là đại diện, nó đặt cơ sở cho sự kiện vĩ đại đập tan tập đoàn phản Đảng - Giang Thanh sau này. Cũng chính trong tháng 4-1976 này, Mao Trạch Đông một lần nữa lại phạm sai lầm, ra quyết định hủy bỏ mọi chức vụ trong và ngoài Đảng của Đặng Tiểu Bình. Ngày 9-9-1976 Mao Trạch Đông qua đời. Giang Thanh ráo riết thực hiện âm mưu đoạt quyền lãnh đạo cao nhất trong Đảng. Thượng tuần tháng 10-1976 Bộ Chính trị chấp hành ý nguyện của Đảng và nhân dân, đã kiên quyết đập tan tập đoàn phản cách mạng Giang Thanh, kết thúc đại dịch 10 năm “ĐCMVHVS”. Trong việc đập tan “bè lũ bốn tên” này có đóng góp to lớn của Hoa Quốc Phong, Diệp Kiếm Anh, Lý Tiên Niệm. - Đánh giá về ĐCMVHVS Hội nghị lần thứ 3 khóa 10 tháng 7-1977 đã thông qua quyết định khôi phục mọi chức vụ trong và ngoài Đảng của Đặng Tiểu Bình và bầu Hoa Quốc Phong làm chủ tịch Đảng, Đặng Tiểu Bình, Diệp Kiếm Anh làm phó Chủ tịch Đảng. Đại hội khóa 11 tháng 8-1977 do Hoa Quốc Phong chủ trì. Do hạn chế của điều kiện lịch sử lúc bấy giờ và ảnh hưởng sai lầm tả khuynh của Hoa Quốc Phong nên Đảng chưa có thể hoàn thành nhiệm vụ lịch sử mà dân tộc giao cho. Hội nghị lần thứ 3 khóa 11 tháng 12-1978 khôi phục danh dự cho Bành Đức Hoài, Đào Chú và sửa oan sai cho 61 đồng chí cao cấp khác. Hội nghị này tập trung cho cải cách và mở cửa, mở ra thời kỳ mới xây dựng hiện đại hóa XHCN. Hội nghị lần thứ 5 khóa 11 tháng 2-1980 chính thức rửa sạch oan sai cho Lưu Thiếu Kỳ, Phó chủ tịch Đảng, Chủ tịch nước. Xóa bỏ quyết định sai lầm của Hội nghị lần thứ 12 khóa 8 về tội phản bội của Lưu Thiếu Kỳ. Tổ chức lễ truy điệu trọng thể Lưu Thiếu Kỳ 17-5-1980. Hội nghị lịch sử có địa vị và tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình xây dựng Đảng, xây dựng nước CHNDTH là Hội nghị lần thứ 6 khóa 11 từ 27-29/6/1981. Thông qua “Nghị quyết của BCHTƯĐCS TQ về một số vấn đề lịch sử của Đảng từ ngày dựng nước”. Nghị quyết này đã phủ định một cách toàn diện “ĐCMVHVS” cả về lý luận lẫn thực tiễn. Đã phân tích một cách khoa học sai lầm của CMVH, phân tích các nguyên nhân sản sinh ra sai lầm. Trong nghị quyết nêu rõ: Luận điểm sai lầm tả khuynh để phát động CMVH đã xa rời tư tưởng Mao Trạch Đông. Những luận điểm chủ yếu để phát động CMVH là không phù hợp với chủ nghĩa Mác-Lênin, cũng không phù hợp với thực tiễn Trung Quốc. Những luận điểm đánh giá về tình hình chính trị quốc gia và hình thái đấu tranh giai cấp của Trung Quốc khi đó là hoàn toàn sai lầm. Việc lấy “Đại CMVHVS là cuộc đấu tranh đối với đường lối xét lại và đường lối tư bản chủ nghĩa” là hoàn toàn không có cơ sở thực tế và làm lẫn lộn phải trái trong hàng loạt vấn đề về lý luận và chính sách. Rất nhiều vấn đề bị CMVH phê phán là xét lại, là tư bản chủ nghĩa, trên thực tế lại là các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa xã hội và nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, trong đó rất nhiều vấn đề trước đây do chính Mao Trạch Đông đề xuất. “ĐCMVHVS” đã phủ nhận các thành tựu 17 năm kể từ ngày dựng nước, trên thực tế ở một mức độ rất lớn, đã phủ nhận việc làm đúng đắn của Đảng, Chính phủ, phủ định tư tưởng Mao Trạch Đông, phủ định sự phấn đấu hi sinh của nhân dân các dân tộc Trung Quốc. Sự lẫn lộn phải trái trên đây đương nhiên sẽ dẫn đến sự lẫn lộn địch-ta. Nhiều đồng chí lãnh đạo trung kiên của Đảng bị bức hại như Lưu Thiếu Kỳ, Hạ Long, Bành Đức Hoài, Đào Chú. “ĐCMVHVS” trên danh nghĩa là dựa vào quần chúng, nhưng trên thực tế đã tách khỏi tổ chức Đảng, tách khỏi quảng đại quần chúng tích cực. Sau khi phát động CMVH, các tổ chức Đảng các cấp phổ biến rơi vào tình trạng tê liệt, nửa tê liệt. Quảng đại đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt, quảng đại quần chúng cơ bản tích cực của Đảng bị bài xích, cơ cấu quyền lực chính quyền thực tế rơi vào cái gọi là” Ủy ban CMVH” các cấp, các tổ chức tòa án chính quyền hầu như bị vô hiệu hóa... Thực tế trong nội bộ Đảng, Nhà nước còn tồn tại một số vấn đề cần phải được giải quyết phù hợp với điều lệ Đảng và pháp luật Nhà nước, nhưng quyết không thể áp dụng phương pháp và lý luận của “ĐCMVHVS”. Lịch sử đã khẳng định “ĐCMVHVS là một cuộc nội loạn, bị tập đoàn phản cách mạng lợi dụng, đã gây ra cho Đảng, Nhà nước và nhân dân các dân tộc Trung Quốc sự tổn thất vô cùng to lớn”. Ngày nay, trong cương lĩnh và điều lệ của ĐCSTQ đã khẳng định “ĐCSTQ lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin; tư tưởng Mao Trạch Đông; lí luận Đặng Tiểu Bình “khái niệm” Lý luận Đặng Tiểu Bình” được nêu ra tại Đại hội lần thứ 15 ĐCSTQ năm 1997-tg) làm kim chỉ nam để xây dựng, phát triển Đảng và thực hiện công cuộc cải cách”. Ngày 9-9-1977 khánh thành lăng kỉ niệm Mao Trạch Đông ở quảng trường Thiên An Môn. Sau này TQ xây dựng thêm và hoàn thiện tầng 2 của lăng vào năm 2001 làm phòng các lãnh tụ của Đảng và Nhà nước TQ, đó là các phòng: Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai, Nguyễn Ngọc Điệp
Mao Trạch Đông và Lâm Bưu.
Các tin mới hơn:
Các tin đã đưa:
| Địa chỉ: 40A Hàng Bài, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội Điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 |
| Tổng biên tập: Nguyễn Hòa Văn |
Trăn trở vùng biên [10:38]
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
![]() |
|
|
|
|
||||||||||||||
|
Bản quyền thuộc về BÁO BIÊN PHÒNG, giấy phép số 183/GP-BC cấp ngày 10-5-2007 Báo Biên phòng - Cơ quan của Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Biên phòng Địa chỉ : 40A Hàng Bài - Hà Nội, điện thoại : (04) 39364407 Fax: (04) 39364408 e-mail: banthukybaobp@gmail.com |